Sụp mi

Tin Tức Sức Khỏe

Sụp mi

Sụp mi là sự sa của mi mắt bên trên xuống thấp hơn vị trí bình thường của nó (bình thường mi trên phủ rìa giác mạc cực trên khoảng 1  – 2mm)

Phân loại

Vấn đề phân loại sụp mi quan trọng vì nó định hướng chúng ta tới sự điều trị thích hợp. Có nhiều cách phân loại sụp mi. Tuy nhiên, sụp mi được chia làm hai nhóm chính: sụp mi bẩm sinh và sụp mi mắc phải.
Sụp mi bẩm sinh:  Chiếm tỉ lệ khoảng 55% – 75% các trường hợp sụp mi.
Sụp mi đơn thuần:
– Thường hay gặp nhất, một hoặc hai bên.
– Có thể có kết hợp với tật khúc xạ.
– Không gây ra nhược thị.
Sụp mi bẩm sinh kèm phối hợp với những bất thường bẩm sinh khác.
* Sụp mi bẩm sinh kèm phối hợp bất thường vận nhãn.
* Sụp mi bẩm sinh kèm phối hợp với những dị dạng ở mặt (3 – 6%).


Sụp mi mắc phải:
Sụp mi mắc phải có thể xuất hiện lúc mới sinh và do đó có thể bị nhầm với sụp mi bẩm sinh.  Tỷ lệ sụp mi mắc phải có thể chiếm khoảng 25% tổng số trường hợp sụp mi và được chia thành 5 nhóm:
Sụp mi do bị tổn thương thần kinh (nguồn gốc trung tâm hoặc ngoại biên).
– Nguồn gốc trung tâm: Liệt vận nhãn với các mức độ khác nhau (tổn thương nhân).
– Nguồn gốc ngoại biên:
+ Liệt dây thần kinh III thường kèm theo liệt vận nhãn. Nhiều khi không can thiệp phẫu thuật loại sụp mi này bởi vì mi bị sụp lại che chở tốt cho giác mạc, thường là mất cảm giác do tổn thương dây V.
+ Hội chứng khe giơi: Liệt các dây thần kinh III, IV, V, Vi cùng bên làm cho nhãn cầu bên tổn thương bất thường bất động nhìn thẳng, mi mắt sụp, giãn đồng tử, mất cảm giác mạc và tê bì vùng dây V chi phối.
+ Hội chứng đỉnh hố mắt: Là hội  chứng khe giơi kèm tổn thương thị thần kinh.
+ Hội chứng xoang hang: Sụp mi, nhãn cầu đứng yên nhưng đồng tử giãn, mất cảm giác mạc, tê bì trên vùng thuộc nhánh dây thần kinh V, lồi mắt thẳng trục, không đẩy thụt  nhãn cầu vào trong được, nghe ở vùng mắt và thái dương có tiếng thổi.
+ Hội chứng cuống não:
Hội chứng Weber: Liệt dây thần kinh số III cùng bên, kèm liệt nửa người đối diện (thường do tổn hại ở chân cuống não).
Hội chứng Benedick: Liệt dây thần kinh số III cùng bên, run chân tay bên đối diện (thường do tổn hại vùng chỏm cuống não).
– Hội chứng Claude Bernard – Horner:
+ Sụp mi, co đồng tử kèm nhãn cầu thụt
+ Làm test Neosynephrine (+).
Sụp mi do cơ.
– Nhược cơ thường gặp ở bệnh nhân nữ, trẻ tuổi:
+ Lúc đầu sụp mi ở một bên, là dấu hiệu phát hiện bệnh.
+ Thay đổi, tăng lên khi mệt mỏ thường buổi chiều sụp nhiều hơn buổi sáng.
+ Song thị
+ Test Prostigmine hoặc test Tensilon (+).
+ Điện cơ thấy biên độ hoạt động của cơ giảm và cơ chóng mệt.
– Bệnh Steinert:
+ Sụp mi ở hai bên.
+ Hở mi (do tổn thương cơ vòng).
c. Sụp mi do cân:
+ Gặp ở người lớn tuổi.
+ Chức năng các cơ gần như bình thường.
+ Khi nhìn xuống thì mi sụp.
+ Nếp gấp da mi thì cao hơn bình thường, mi mỏng.
+ Sụp mi có thể nặng hoặc nhẹ.
d. Sụp mi do chấn thương           .
Chấn thương đụng dập hoặc đâm xuyên vào cân cơ nhãn cầu cũng có thể gây sụp mi vĩnh viễn. Tổn thương mô bệnh học có thể phối hợp ở cân cơ và sẹo. Cần nghĩ đến tổn hại cân cơ nâng mi nếu có rách mi có lộ lớp mỡ trước cân cơ. Phẫu thuật hốc mắt và phẫu thuật thần kinh cũng có thể gây ra sụp mi.

Điều trị sụp mi

Sụp mi chủ yếu được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật. Phương pháp cụ thể được quyết định tùy vào mức độ chức năng của cơ nâng mi. Có rất nhiều phương pháp phẫu thuật để điều trị bệnh lý sụp mi nhưng có thể xếp thành ba nhóm chính:
Phương pháp cắt một phần da mi phía trước
Phương pháp này là phương pháp điều trị cổ điển. Ngày nay, phương pháp này ít được nhắc tới.
Phương pháp cắt ngắn cơ nâng mi trên.
Phương pháp này được chỉ định khi mà sức cơ nâng mi trên còn ở mức độ trung bình hoặc tốt. Có thể thực hiện theo đường từ phía sau qua kết mạc hoặc đường từ phía trước qua da
Phương pháp dùng sự hỗ trợ của các cơ lân cận.
Phương pháp này được chỉ định trong trường hợp mà sức cơ nâng mi trên yếu  hoặc không còn.
* Sử dụng cơ thẳng trên để tiến hành thay thế hoạt động của cơ nâng mi:
Có rất nhiều kỹ thuật được giới thiệu như của Motais, Dickey,Young, Berke… và áp dụng khi mà chức năng cơ thẳng trên còn tốt.
* Treo mi trên vào cơ trán: Là phương pháp điều trị đơn giản, tương đối thông dụng. Trong phẫu thuật này, người ta dùng những chất liệu sinh học (cân đùi, vạt cơ trán…) hoặc tổng hợp (chỉ nilon, silicon, chỉ Mersilene mesh…) treo mi với cơ trán. Mi mắt sẽ mở ra khi người bệnh dùng cơ trán để kéo lông mày lên.

Không có phản hồi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

thuốc điều trị bệnh ký sinh trùng
Tin Tức Sức Khỏe
Các tiêu chí để đánh giá diễn biến tốt do can thiệp của điều trị bệnh ký sinh trùng

Để đánh giá được diễn biến tốt do can thiệp điều trị bệnh do các loại ký sinh trùng gây ra cho bệnh nhân, người ta đã đưa ra ba tiêu chí. Bao gồm có khỏi bệnh về mặt lâm sàng, khỏi bệnh ký sinh trùng về mặt xét nghiệm …

thuốc điều trị bệnh ký sinh trùng
Tin Tức Sức Khỏe
Diễn biến của một bệnh ký sinh trùng (tiếp theo)

Những diễn biến của một bệnh ký sinh trùng được chia làm ba hình thức diễn biến là hình thức tự diễn biến, diễn biến do can thiệp điều trị và diễn biến sau khi mắc bệnh. Contents1 Diễn biến do can thiệp điều trị:1.1 đánh giá can thiệp có …

ho gà
Tin Tức Sức Khỏe
ho gà

Contents1 Định nghĩa2 Dịch tễ học3 Lâm sàng Định nghĩa Bệnh của trẻ nhỏ, rất dễ lây và gây thành dịch, đặc biệt bởi một chứng xuất tiết ở đường hô hấp và những con ho rũ rượi Từ ngày có các kháng sinh các biến chứng do bội nhiễm …

>